Bảo quản, bảo vệ chứng cứ

Chia sẻ bài viết:
Bảo quản, bảo vệ chứng cứ
Bạn đọc có địa chỉ: NgocYen9x@gmail.com gửi email đến Công ty TNHH Luật YouMe hỏi: Gia đình tôi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới nhưng diện tích sử dụng không đúng với thực tế và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ đã được cấp. Hiện tôi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ và một số tài liệu nộp thuế đất từ thời ông bà tôi để lại. Xin hỏi việc giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì việc bảo quản, bảo vệ chứng cứ được Tòa án thực hiện như thế nào?
Bạn đọc có địa chỉ: NgocYen9x@gmail.com gửi email đến Công ty Luật TNHH YouMe hỏi: Gia đình tôi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới nhưng diện tích sử dụng không đúng với thực tế và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ đã được cấp. Hiện tôi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ và một số tài liệu nộp thuế đất từ thời ông bà tôi để lại. Xin hỏi việc giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì việc bảo quản, bảo vệ chứng cứ được Tòa án thực hiện như thế nào?
Luật gia Cấn Thị Phương Dung, Công ty Luật TNHH YouMe trả lời:
Điều 107 Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định bảo quản tài liệu, chứng cứ như sau:
1. Tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp tại Tòa án thì việc bảo quản tài liệu, chứng cứ đó do Tòa án chịu trách nhiệm.
2. Tài liệu, chứng cứ không thể giao nộp được tại Tòa án thì người đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ đó có trách nhiệm bảo quản.
3. Trường hợp cần giao tài liệu, chứng cứ cho người thứ ba bảo quản thì Thẩm phán ra quyết định và lập biên bản giao cho người đó bảo quản. Người nhận bảo quản phải ký tên vào biên bản, được hưởng thù lao và phải chịu trách nhiệm về việc bảo quản tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật.
4. Nghiêm cấm việc hủy hoại tài liệu, chứng cứ.
Điều 110 Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về bảo vệ chứng cứ như sau:
1. Trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được thì đương sự có quyền đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ. Đề nghị của đương sự phải thể hiện bằng văn bản. Tòa án có thể quyết định áp dụng một hoặc một số trong các biện pháp niêm phong, thu giữ, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phục chế, khám nghiệm, lập biên bản và các biện pháp khác.
2. Trường hợp người làm chứng bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc mua chuộc để không cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật thì Tòa án có quyền quyết định buộc người có hành vi lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc mua chuộc phải chấm dứt hành vi đó. Trường hợp hành vi đó có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát xem xét về trách nhiệm hình sự.
Như vậy, tài liệu, chứng cứ sẽ được Tòa án thực hiện bảo quản, bảo vệ theo quy định pháp luật nêu trên.
Ảnh: Sưu tầm
Tác giả: Phương Dung

Trường hợp cần sự hỗ trợ của Công ty Luật TNHH YouMe, quý khách vui lòng liên hệ:

Công ty Luật TNHH YouMe
Địa chỉ: Số 33 Giang Văn Minh, Ba Đình, Hà Nội
Hotline: 0243 7349234/ 0966770000
Email: info@youmevietnam.com.

Tác giả bài viết: Cấn Thị Phương Dung