Chủ sở hữu công trình xây dựng không đồng thời là người sử dụng đất

Chia sẻ bài viết:
Chủ sở hữu công trình xây dựng không đồng thời là người sử dụng đất
(Lao động) - Vợ chồng tôi xây dựng nhà trên mảnh đất của ông bà nội (đã mất). Trước khi xây dựng, chúng tôi có họp gia đình xin ý kiến và mọi người trong gia tộc đồng ý. Vậy, tôi có thể xin chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà không, nếu có thì điều kiện như thế nào (Tiến Hùng, Trúc Bạch, Hà Nội).
Công ty Luật TNHH YouMe - trả lời:
Theo quy định của pháp luật đất đai, trường hợp của anh (chị) được coi là chủ sở hữu công trình xây dựng nhưng không đồng thời là người sử dụng đất.
Căn cứ quy định tại Nghị định số 88/2009/NĐ-CP (ngày 19/10/2009 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất), thì hộ gia đình, cá nhân trong nước được chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, nhưng phải có một trong các loại giấy tờ sau: a- Giấy phép xây dựng công trình đối với trường hợp phải xin phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng; b- Giấy tờ về sở hữu công trình xây dựng do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ, trừ trường hợp Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng; c- Giấy tờ mua bán hoặc tặng cho hoặc thừa kế công trình xây dựng theo quy định của pháp luật đã được chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân; d- Giấy tờ của Tòa án nhân dân hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu công trình xây dựng đã có hiệu lực pháp luật; đ- Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c và d nêu trên, mà giấy tờ đó ghi tên người khác thì phải có một trong các giấy tờ mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế công trình xây dựng trước ngày 01/07/2004 (ngày Luật Xây dựng có hiệu lực thi hành) có chữ ký của các bên có liên quan và được UBND từ cấp xã trở lên xác nhận; trường hợp mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế công trình xây dựng trước ngày 01/07/2004 mà không có giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế có chữ ký của các bên có liên quan thì phải được UBND xã xác nhận vào đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận về thời điểm mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế công trình xây dựng đó; e- Trường hợp cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này thì phải được UBND cấp xã xác nhận công trình được xây dựng trước ngày 01/07/2004, không có tranh chấp về quyền sở hữu và công trình được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng; trường hợp công trình được xây dựng từ ngày 01/07/2004 thì phải có giấy tờ xác nhận của UBND cấp xã về công trình xây dựng không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng, không có tranh chấp và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp xây dựng trước ngày 01/07/2004 (khoản 1 Điều 9).
Nghị định số 88/2009/NĐ-CP quy định, trường hợp chủ sở hữu công trình xây dựng không đồng thời là người sử dụng đất thì ngoài giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu công trình theo quy định trên, phải có văn bản chấp thuận của người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng công trình đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật và bản sao giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (khoản 3 Điều 9).

Trường hợp cần sự hỗ trợ của Công ty Luật TNHH YouMe, quý khách vui lòng liên hệ:

Công ty Luật TNHH YouMe
Địa chỉ: Tòa nhà Phương Đông, số 33 Giang Văn Minh, Ba Đình, Hà Nội
Hotline: 043 7349234/ 0966770000
Email: info@youmevietnam.com.

Tác giả bài viết: LS. Phạm Ngọc Minh
Nguồn tin: Báo Lao Động